quan niệm tình dục của phương tây
Con xin được sám hối tất cả tội chướng của con đã tạo do : Thân, khẩu, ý gây ra từ vô lượng kiếp đến nay. Mong các vị oan gia trái chủ cho con 1 cơ hội, tha thứ cho con, cùng con nhất tâm niệm cùng đồng sanh về Tây phương cực lạc.
Chính qua thuyết tân Plato mà Augustine quan niệm tinh thần như một hiện hữu phi vật chất và nhìn cái ác như một bản thể không có thật (tương phản với học thuyết của phái Manichaea - 'đạo Mani'). Nhiều phong trào thần bí tại phương Tây, bao gồm của Meister Ekhartd và
ĐỀ CƯƠNG MÔN GIÁO DỤC TÍCH HỢP1.Khái niệm và đặc trưng của giáo dục tích hợpa. Khái niệm :Giáo dục tích hợp là quá trình giáo dục có sự lồng ghép, đan xen của các thành tốcủa quá trình giáo dục với nhau, tạo thành 1 chỉnh thể thống nhất và hình thànhnăng lực chung cho con người .Đặc trưng :- GDTH là cách
***25 NĂM THÀNH LẬP KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - Hướng tới tương lai*** Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh kỉ niệm 25 năm ngày thành lập Khoa Giáo dục Tiểu học - Hướng tới tương lai".. Trong tình hình dịch Covid bùng phát, chiếc clip 25 NĂM THÀNH LẬP KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1- Chúng ta nhận thấy sự quan trọng của hình và ý trong bài tập thở của Aikido, sự quan trọng của sự phối hợp giữa tinh thần và thể xác để có kết quả chắc chắn trong tập luyện. chúng ta tập trung vào hơi thở mà loại bỏ tạp niệm (phương pháp elemination) để
Sáng 24/11/2021, tại Trường Đại học Nha Trang và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức khai mạc vòng sơ khảo và họp các Hội đồng đánh giá và xét giải
Vay Tiền Nhanh Iphone. Đời sốngTổ ấm Thứ hai, 12/4/2004, 0913 GMT+7 Từ xưa, vấn đề này đã được bộc lộ một cách khá cởi mở. L’epopée de Gilgemes - trường ca của người Babylone cách đây 35 thế kỷ - có những câu miêu tả phụ nữ với quan hệ tình dục. Trên đồ gốm Ai Cập cũng có nhiều biểu tượng về tính dục nữ. Tình dục được đề cập nhiều trong các truyện thần thời gian, tính dục nữ bị nhìn nhận khác đi với những quan niệm hạ thấp phẩm giá phụ nữ Phụ nữ là bề dưới, là người phụ thuộc và tính dục nữ bị đè nén Nữ văn sĩ Pháp George Sand 1804-1876 đã mô tả tính cách người phụ nữ thế kỷ 19 trong chuyện tình dục với chồng qua nhân vật Lelia là sự khiếp sợ, thụ động và chịu đựng. Một phụ nữ đức hạnh thế kỷ 19 phải làm việc, tiết kiệm và quên đi nhu cầu thể xác. Nhu cầu tình dục là đặc quyền của nam giới, nữ giới chỉ có hy sinh, chịu đựng và phải dập tắt mọi nhu cầu khoái cảm. Tại sao phụ nữ bị coi là bề dưới? Ngay từ thế kỷ I, Flavius Josephe đã nói về phụ nữ như sau “Phụ nữ thua kém nam giới về mọi mặt, bởi vậy họ phải nghe theo đàn ông... Chính Chúa đã ban cho người đàn ông sức mạnh”. Về hành vi tình dục cũng vậy, tôn giáo quy định tư thế nằm dưới cho người nữ, vì đó là tư thế duy nhất được nhà thờ cho phép. Thánh Paul “Người nữ phụ thuộc vào người đàn ông nên trong giao phối, người nữ phải nằm dưới”. Thánh Augustine “Mọi tư thế khác với tư thế đó là có tội và trái với tự nhiên”. Giám mục Gilbert de Limerick, thời Trung cổ đã viết “Phụ nữ sẽ kết hôn với người cầu hôn, đó là người cày ruộng và chiến đấu, và phụ nữ phải phục vụ họ”. Theo những quan điểm trên, phụ nữ là tạo vật hạng hai, thua kém đàn ông cả về lý trí và đạo đức. Đề cao vai trò của người mẹ nhằm phủ nhận tính dục nữ Đạo Thiên Chúa giáo đã tìm cách xóa bỏ tính dục nữ bằng cách đồng hóa nó với chức năng làm mẹ chuyện về Đức mẹ Đồng Trinh trong giấc ngủ được thiên thần thông báo là mang thai, sau sinh ra Chúa hài đồng chứ không cần có quan hệ tình dục. Các tôn giáo cũng đặt ra rất nhiều ngày kiêng cữ quan hệ tình dục. Thủ tục cắt bỏ âm vật còn tồn tại đến ngày nay ở một số nước châu Phi và châu Á cũng là một cách để tiêu diệt tính dục nữ. Nhiều tài liệu tâm lý hay văn học trước đây mô tả những thay đổi về thể chất và tâm lý ở nữ giới như một quá trình ít có dấu hiệu của sự khủng hoảng, không bị nhu cầu tình dục thôi thúc mạnh mẽ và cần sự giải tỏa thiên về tình cảm hơn là thể chất. Bằng chứng mà những tài liệu trên đưa ra là nữ giới ít thực hành tự kích dục, ít nói tục hơn, không có nhu cầu giải toả tình dục thúc bách như nam giới. Họ bước vào quan hệ tình dục ít khi do ham muốn mạnh mẽ mà thường do tò mò, nể nang, thương hại hay cả tin, hoặc do muốn chứng tỏ tình yêu, do thiếu ý chí chống lại sự đòi hỏi quá dai dẳng của nam giới. Dù trong trường hợp nào thì ham muốn tình dục cũng không phải là yếu tố quyết định. Phụ nữ là cánh cửa đi gặp ma quỷ Trong thần thoại Hy Lạp, Zeus và Hera khi bàn cãi về sự chia sẻ khoái cảm của nam và nữ, đã hỏi Tiresias một người khi là đàn ông, khi là phụ nữ. Họ đã được trả lời rằng Nếu chia khoái cảm làm 10 phần, thì người nữ có đến 9 và nam giới chỉ có 1, hàm ý là phụ nữ rất nguy hiểm. Gần đây, những quan niệm tích cực về tính dục nữ đã phát triển cách mạng tình dục ở thập kỷ 1960 có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phụ nữ. Trước đây, ngoại tình là đặc quyền của đàn ông nhưng từ cuộc cách mạng này, xã hội phải công nhận rằng sự thỏa mãn tính dục ở phụ nữ cũng là việc cần thiết như các nhu cầu bình thường khác. Nhiều nghiên cứu về tính dục, nhất là các nghiên cứu của Masters và Johnson thập kỷ 1940 đã chứng minh rằng phụ nữ có khoái cảm cũng như hoặc nhiều hơn nam giới; điểm đáp ứng tính dục của nữ là âm vật. Masters và Johnson đã bác bỏ quan điểm vô lý cho rằng phụ nữ có khả năng tính dục thấp, đồng thời nhấn mạnh đến quyền hưởng khoái cảm tình dục của phụ nữ. Ngày nay, chính nhà thờ cũng phải thừa nhận khoái cảm tình dục không phải chỉ nhằm mục đích sinh sản. Những đặc thù sinh học và tâm lý của tính dục nữ Tình dục chỉ là một phần của mối quan hệ nam nữ. Nếu không đáp ứng được những phần khác như văn hóa ứng xử, trình độ hiểu biết, sở thích... thì không đi đến tình yêu. Ngày nay, người ta đã biết đến nhiều khu vực phát sinh khoái cực ở phụ nữ như âm đạo, âm vật và tử cung sự rung động ở tử cung, có người còn nói đến điểm G mặt trên thành âm đạo, 1/3 ngoài. Phụ nữ có thể xuất hiện nhiều khoái cực liên tiếp trong một lần quan hệ tình dục, điểm thường không có ở nam. Những phụ nữ từng có trải nghiệm tình dục thừa nhận rằng hứng khởi tình dục nữ phụ thuộc nhiều vào đối tượng, nghĩa là vào tính cách riêng của mỗi người đàn ông chứ không phải với nam giới nói chung. Chỉ có những người gây được ấn tượng với phụ nữ vì sự hiểu biết hay những phẩm chất khác mới có thể đánh thức ham muốn tình dục ở họ. Một đặc điểm nữa của tình dục nữ tuy ít gặp nhưng là sự thực ham muốn tình dục bùng phát ở những phụ nữ đã mãn kinh hiện tượng hồi xuân. Thông thường, sau khi mãn kinh và buồng trứng ngừng hoạt động, ham muốn tình dục cũng mất đi. Nhưng một số trường hợp lại diễn ra điều trái ngược. Nguyên nhân là sự tiếp tục hoạt động của các tuyến nội tiết trong nhiều năm sau khi buồng trứng ngừng hoạt động. Hiện tượng phụ nữ mãn kinh như được tiếp thêm sức mạnh mới, ham muốn tình dục bỗng nhiên trỗi dậy mạnh mẽ được gọi là hồi xuân. Văn học và y học từng nhắc đến câu chuyện hồi xuân của nhiều phụ nữ tuổi mãn kinh. Họ mê muội lao vào những cuộc tình không xứng đáng, đánh mất khả năng phán xét và sự kiêu hãnh, làm dáng một cách lố lăng và có những hành vi táo bạo không kém gì tuổi vị thành niên. Dĩ nhiên là trong những trường hợp đó, nhiều cuộc “chia tay hoàng hôn” đã xảy ra. BS Đào Xuân Dũng, Sức Khoẻ & Đời Sống
"Gái ngoan là gái biết giữ trinh"Có lẽ câu nói bên trên là một câu nói ai cũng đã nghe đến ít nhất một lần trong đời, đặc biệt khi bạn là một người con gái sống ở Việt Nam. Xưa kia, sự trinh tiết của một người con gái rất được coi trọng và qua đó trở thành một yếu tố cần cân nhắc kỹ lưỡng của mỗi người trước khi quyết định tiến tới hôn nhân. Sự định nghĩa gắn kết giữa gái trinh tiết’ với gái ngoan’ đã nâng cao cái giá của một lớp màng mỏng manh lên quá cao nên tự vô hình các cô gái, nếu không tỉnh táo, sẽ không may mà trở thành nô lệ cho chính sự trinh tiết’ nữ Á Đông nói chung đến tận bây giờ nhiều người vẫn nghĩ rằng, quan hệ tình dục là chuyện chỉ nên diễn ra trong mối quan hệ vợ chồng. Họ không có khái niệm sống thử để làm quen với cuộc sống vợ chồng và thường dễ bị sốc sau hôn nhân vì nhiều nguyên nhân xảy ra ngoài sự mong đợi của họ. Điều này nhanh chóng dẫn đến sự thất vọng và tệ hơn là sự đổ vỡ trong hôn nhân."Cô ấy 18 rồi mà vẫn còn trinh đó"Đối lập với góc nhìn của người Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng mình thì con gái tới 18 tuổi mà vẫn còn trinh ở phương Tây thường cảm thấy xấu hổ vì điều đó. Thông thường, phụ nữ phương Tây coi vấn đề tình dục rất thoáng vì đối với họ, tình dục đơn thuần chỉ là một nhu cầu sinh lý mà thôi. Tuy nhiên, sự xấu hộ về việc 18 vẫn còn trinh tiết’ của họ thường được xảy ra khi họ còn là học sinh cấp 3, nơi xảy ra nhiều vấn đề bị tác động phần lớn từ quan niệm của các bạn học sinh cùng lứa peer-presure.Thời điểm trung học phổ thông ở phương Tây là nơi các bạn cả nam và nữ liên tục rủ rê nhau thử đủ mọi thứ, từ quan hệ tình dục, hút thuốc,… và cả đến những chất nghiện như cocain. Tại độ tuổi đó, họ cho rằng tuổi còn trẻ, chưa bị bắt buộc và chịu trách nghiệm gì thì nên YOLO’ và thử hết tất cả những gì mình còn có thể. Quan niệm lúc đó thì sẽ đề cao việc bạn có phải là một người tốt’ trên giường không qua việc bạn đã ngủ với ai và bao nhiêu người, hơn là việc bạn có phải là là gái ngoan’ hay thêmTuy nhiên, khi người phương Tây quyết định đi đến hôn nhân, họ luôn thấy việc sống thử với nhau ít nhất 1,2 năm là điều hết sức bình thường và cần thiết. Nhờ đó, sau khi cả hai cùng nhau bước vào hôn nhân một cách chính thức, họ không cảm thấy bị quá bất ngờ một cách tiêu cực từ phía bạn đời của mình hay từ việc hôn nhân của cả hai nói trân trọng đối với lần đầu tiên của mình lên giường dù là bạn là nam hay nữ không có gì là sai cả. Theo lý tưởng thì ai cũng mong rằng người mình làm tình đầu tiên sẽ là người mình yêu và cùng nhau sống trọn vẹn tới cuối đời như trong chuyện cổ tích. Nhưng, đó là một ý nghĩ vô cùng khó thành vì cũng như với việc nấu ăn vậy, dù bạn có chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu đi chăng nữa thì lần đầu tiên bạn nấu sẽ rất ít khi làm ra được món bạn yêu thích thêmĐối với cá nhân mình thì quan niệm của cả hai phương nên được kết hợp với nhau để tạo ra một quan niệm tích cực hơn. Thứ nhất, mình cho rằng bạn nên trân trọng lần đầu tiên bạn làm, nhưng đừng quá quan trọng hoá nó mà thành ra làm khổ cho chính mình. Hơn nữa, bạn không nhất thiết phải giữ sự trinh tiết’ của mình cho người bạn đời của mình, đừng nghĩ quá nhiều và hãy nên trao nó với người bạn cảm thấy là the right person’ hay chỉ cần là thoải mái và tin tưởng thôi. Qua đó, bạn cũng sẽ không cảm thấy nuối tiếc sau khi lên giường với hai, đối với hôn nhân thì mình rất khuyên mong rằng bạn nên sống chung thử với người kia ít nhất 1 năm trước khi chính thức kết hôn. Vì dù trong thời gian yêu hai bạn có cảm thấy mình hợp nhau đến như thế nào đi chăng nữa thì việc sống chung với nhau dưới một mái nhà là một điều hoàn toàn khác biệt. Việc này sẽ giúp hai bạn tiến tới hôn nhân một cách tốt đẹp, chắc chắn và bền vững ba, nếu như người bạn yêu thương dù là bạn trai hay đã là vị hôn thê muốn lên giường với bạn thì trước khi trả lời bạn nên tự hỏi xem mình đã sẵn sàng không chỉ về cơ thể và cả về cảm xúc chưa. Dù người đó có phải kìm hãm nhu cầu sinh lý của mình lại một chút thì việc đó không có nghĩa rằng tình cảm của họ sẽ nhạt đi. Vì nếu người đó thực sự yêu và tôn trọng bạn thì dù bạn có trả lời ra sao, người đó cũng sẽ đón nhận câu trả lời đó một cách kính trọng ơn bạn đã đọc bài viết của mình tới tận đây và chúc bạn luôn hạnh phúc!
Thuốc ngừa thai, yêu đương tự do, hay cả phong trào hippie “make love, not war” sau này, tất cả những chủ đề ấy chỉ kiếm được chỗ đặt chân trong xã hội khi người mở đường cho làn sóng khai hóa tình dục lớn nhất thế kỷ 20 đã qua đời từ lâu bác sĩ Alfred Charles Kinsey. Cho dù đó không phải là ý đồ khởi thủy của nhà nghiên cứu sáng giá này. Nhóm Kinsey Quả bom đạo đức Ít cái bìa nào tẻ nhạt như bìa công trình nghiên cứu dày trang ấy, nhưng nội dung của nó gây tranh cãi như rất ít tác phẩm của thế kỷ trước. Tạp chí Time số 8/1953 cảnh báo “Như một quả bom nguyên tử!”, Newsweek thì quả quyết bây giờ người ta “biết hết về phụ nữ”, còn nhật báo San Francisco News không phải tờ duy nhất không dám đưa tin nóng lên mặt báo - một hiện tượng hy hữu trong làng báo khá tự do ở Bắc Mỹ. Chuyện gì đã xảy ra vậy? Ngày 14/9/1953, công trình nghiên cứu dài hạn về “Hành vi tình dục ở nữ giới” ra mắt, một phóng sự làm choáng váng hàng ngàn nhà khoa học, giới chính khách bảo thủ và những người đọc chỉ ưa bàn đến tính dục trong khuôn khổ đạo lý chứ không phải là một phạm trù nhân học. Nhưng quả bom đã châm ngòi, và ít nhất ở Tây bán cầu đã phát động cuộc cách mạng tình dục không thể đảo chiều. Công trình nghiên cứu này là tác phẩm của một nhóm nhà khoa học dưới ngòi bút chủ đạo của Alfred Kinsey. Họ cung cấp một loạt dữ liệu trần trụi về một chủ đề mù mờ. Lần đầu tiên trong lịch sử xuất bản, người Mỹ được đọc giấy trắng mực đen trên nền luận cứ khoa học về hàng loạt “điều cấm kỵ” như đàn ông và quan hệ tình dục đồng giới, phụ nữ và sex tiền hôn nhân, thủ dâm... Công trình nghiên cứu mang tên chung Kinsey Reports sau đó một năm còn bổ sung thêm “Hành vi tình dục ở nam giới” đem lại cho tác giả vị thế tiên phong của cuộc cách mạng tình dục, trong khi chính Kinsey sinh thời chưa bao giờ định phụng sự sứ mệnh ấy. Cấm có bạn gái Lớn lên ở một thị tứ nghèo nàn thuộc bang New Jersey, Alfred Kinsey được giáo dục rất hà khắc trong một gia đình sùng đạo Giám Lý Methodist. Chủ nhật nào ông bố cũng đưa đàn con đi đủ ba nhà thờ, sau đó đến học tiết Thần học do chính ông làm giáo viên. Hẹn hò bạn gái là khái niệm chưa từng xuất hiện trong từ vựng của Kinsey. Bạn thân khác giới đầu tiên là Clara McMillen, một sinh viên xinh đẹp và thông minh ở khoa Hóa, cũng là người vợ của ông sau lần gặp đầu tiên một năm. Đêm tân hôn là một thảm họa - ít nhất là đối với nhà nghiên cứu tình dục học tương lai chẳng xảy ra chuyện gì. Điều này tiếp diễn cả một năm sau đó mà không ai rõ lý do. Chỉ có một điểm mà các nhà viết tiểu sử của Kinsey hoàn toàn đồng thuận chính cuộc sống tình dục nguội lạnh và nỗi bức xúc cay đắng phát sinh từ đó là động cơ chính cho tinh thần đam mê khoa học của vợ chồng Kinsey McMillen là cộng sự đắc lực trong Kinsey Reports. Kinsey bắt tay vào nghiên cứu loài ong ở Đại học Indiana University. Sau hai thập kỷ, nhà nghiên cứu côn trùng Kinsey mới ngộ ra rằng ở Hoa Kỳ có nhiều kiến thức về hoạt động phối ngẫu của ong - hơn là của người! Thế là ông nhờ các cộng tác viên phỏng vấn nặc danh hàng ngàn đàn ông và đàn bà, và công trình nghiên cứu điền dã ở quy mô rộng đầu tiên về hành vi tình dục của con người, Kinsey Reports, ra đời. Dư luận sục sôi Như một quả bom nguyên tử! - tạp chí Time nhận định Các kết quả của báo cáo đầu tiên về đề tài này, năm 1948, rất được chú ý. Ví dụ ngót 40% người được hỏi cho biết đã từng có kinh nghiệm về tình dục đồng giới. Cả những khái niệm cấm kỵ như thủ dâm, thống dâm... cũng lần đầu tiên được tranh luận công khai. ấn bản bán hết veo sau mấy tuần, cho dù ngày đó nhiều bang ở Mỹ còn bỏ tù những ai thực thi tình dục đồng giới hoặc kết hôn giữa các màu da. khán giả chờ nghe Kinsey thuyết trình tại University Of California Berkeley, đông hơn bất kỳ sự kiện nào khác Điện thoại trong văn phòng Kinsey đổ chuông không ngừng, bản thân nhóm tác giả không hề tính đến khả năng là rất nhiều người muốn thổ lộ kinh nghiệm của họ về đề tài khó nói này. Trong những lần về địa phương phỏng vấn, khách sạn của Kinsey luôn bị vây vòng trong vòng ngoài bởi hàng trăm người tự nguyện, chủ yếu phụ nữ. Không phải là Kinsey không gặp trở ngại. Trong mắt giới bảo thủ và tín ngưỡng ở Mỹ, phụ nữ được coi là sinh vật bàng quan với tình dục. Khi phụ nữ “cung khai” về những mơ mộng ướt át và mong muốn xác thịt, đàn ông - không chỉ ở Hoa Kỳ - lên cơn đau tim. Những con số thống kê bom tấn, ví dụ trên một nửa số phụ nữ được phỏng vấn cho biết thường xuyên hoặc thỉnh thoảng thủ dâm, 28% đôi khi thích người đồng giới, 25% phụ nữ ngoại tình, 50% không còn “trong trắng” trong đêm tân hôn..., vấp phải sự công kích mạnh mẽ, không chỉ từ phía nhà thờ. Vinh quang muộn Danh mục của nhóm Kinsey bao gồm 521 câu hỏi như “Ông/Bà ưa tư thế làm tình nào nhất?” đa số hỏi lại ngay “Ồ, có nhiều tư thế à?”, “Ông/Bà nghĩ đến cái gì khi tự sướng?”... sau đó tên tuổi được mã hóa khi đưa vào thống kê. Lập tức có nhiều người lên tiếng, liệu kết quả phỏng vấn có mang tính đại diện hoặc khách quan, vì nói cho cùng, những người trả lời vốn là những người có hứng đem chuyện thầm kín ra kể, không hiếm khi lẫn cả gái bán hoa và tù nhân, hay cả những kẻ khoác lác bệnh hoạn. Cả những người làm khoa học nghiêm túc cũng phải thừa nhận là phương pháp phỏng vấn của Kinsey không hẳn hứa hẹn kết quả chính xác. Quỹ Rockerfeller, nhà tài trợ chính, cắt hết nguồn tài chính. Dù sao, công trình nghiên cứu của nhóm Kinsey - một thập kỷ trước khi thuốc ngừa thai và cuộc cách mạng tình dục ra đời - lần đầu tiên đã đưa một chủ đề bị kiêng dè ở Mỹ và phương Tây, lên vị thế mục đích nghiên cứu khoa học. Vinh quang thực sự của cha đẻ công cuộc khai hóa tình dục chỉ đến với Kinsey sau khi ông qua đời ngày 25/8/1956, cho đến lúc đó, ông không làm được công trình nào nữa đáng kể. Theo Lê Quang/ Thể thao & Văn hóa Cuối tuần
Luận văn Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm hội ngày càng hiện đại, thanh thiếu niên TTN Việt Nam càng hiểu nhiều hơn về lối sống của người phương Tây vốn có nhìn nhận việc quan hệ tình dục QHTD trước hôn nhân khá cởi mở [26]. Đối với các hành vi sức khỏe ảnh hưởng đến TTN và sinh viên thì QHTD trước hôn nhân ngày càng trở thành mối quan tâm lớn của xã hội. MÃ TÀI LIỆU Giá Liên Hệ So với các quốc gia trên thế giới, Việt nam là quốc gia có tỉ lệ quan hệ tình dục QHTD trước hôn nhân thấp hơn. Nghiên cứu năm 2004 của các nhà nghiên cứu xã hội học tại Thượng Hải, Đài Loan và các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam so sánh về hành vi tình dục trước hôn nhân của thanh viên ở 3 thành phố Thượng Hải, Hà Nội và Đài Loan. Kết quả tỉ lệ QHTD trước hôn nhân của thanh niên ở Hà Nội là 8%, trong khi tỉ lệ này ở Thượng Hải là 16% và ở Đài Loan lên đến 34% [22]. Tỉ lệ này ở TTN tại các nước phát triển như Mỹ lên đến 75% [19]. Còn tại Châu Á, tỷ lệ TTN độ tuổi từ 12-19 đã từng có QHTD ở Malaysia là 5,4% [20]. Nhìn vào những con số trên có thể thấy sự khác biệt lớn giữa tỉ lệ QHTD trước hôn nhân của TTN ở các nước phương Tây và phương Đông. Tại Việt Nam, một thực trạng đáng báo động hiện nay là TTN có QHTD trước hôn nhân đang trở nên phổ biến và có xu hướng gia tăng. Theo kết quả điều tra Quốc gia về vị thành niên VTN và TTN Việt Nam lần thứ 2 SAVY2 được công bố năm 2010 cho thấy 9,5% thanh niên Việt Nam đã từng có QHTD trước hôn nhân. Trong khi đó tỷ lệ này ở SAVY 1 2003 là 7,5%. Tuổi trung bình QHTD lần đầu của thanh niên Việt Nam cũng có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi ở SAVY1 xuống còn 18,1 ở SAVY2 [17][48]. QHTDtrước hôn nhân không dùng các biện pháp bảo vệ dẫn đến nhiêu hệ lụy đáng báo động như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và lây nhiễm HIV/AIDS… Theo thống kê, Việt Nam là nước có mặt trong 5 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới và đứng đầu Châu Á với 1,2-1,6 triệu ca mỗi năm [1]. Sinh viên là một bộ phận của TTN, bắt đầu làm quen với môi trường sống xa nhà. Đây là bước ngoặt cho sự thay đổi theo hướng độc lập hơn, là cơ hội để thanh niên có thể giao lưu, kết bạn hoặc trải nghiệm cuộc sống. Sự thay đổi này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến những chuẩn mực đạo đức và quan niệm sống của giới trẻ ngày nay dẫn đến việc sinh viên có QHTD ngày càng sớm, tỷ lệ nạo phá thai ngày một tăng [29]. Với thực trạng giới trẻ ngày nay như vậy, thì thực trạng hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên trường Cao Đẳng Y tế Thanh Hóa ra sao? Điều này chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? Chưa có nghiên cứu nào tiến hành điều tra về vấn đề này tại trường, vì vậy nghiên cứu “ Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2015” được tiến hành góp phần giải đáp các vấn đề sức khỏe trên. Từ đó góp phần giúp cải thiện, nâng cao sức khỏe của sinh viên trong trường. Nghiên cứu thực hiện với các mục tiêu cụ thể sau . Mô tả một so đặc điêm đời song cá nhân, kiên thức, thái độ và các moi quan hệ với gia đình, bạn bè liên quan đên hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tê Thanh Hóa năm 2015. 2. Mô tả thực trạng hành vi QHTD trước hôn nhân và một số yêu tố liên quan của sinh viên tại trường Cao đẳng Y tê Thanh Hóa năm 2015. Tài Liệu Tham Khảo Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2015 1. Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNFPA. 2014, Thực trạng chung về mang thai tuổi vị thành niên và các chương trình/chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên Chi cục Dân Số-Kế Hoạch Hóa gia đình Hải Phòng. 2. Bogale A, Seme A. 2014, Premarital sexual practices and its predictors among in-school youths of Shendi town, west Gojjam zone, North Western Ethiopia. ReprodHealth, 11, 49. 3. Dave and et al. 2013, A Study on High-risk Premarital Sexual Behavior of College Going Male Students in Jamnagar City of Gujarat, India. Int JHigh Risk Behav Addict, 23. 4. Marison R and et al. 2013, Sexual Health Knowledge, attitudes and behaviors of Filipino college students. Asian life sciences, 231. 5. Saulog Lacson R and et al. 1997, Correlates of sexual abstinence abstinence among urban university students in the Philippines. International Family Planning Perspectives, 23, 168-172. 6. Way Blanc 1998, Sexual behavior and contraceptive knowledge and use among adolescents in developing countries. Studies in Family Planning, 29 2, 106-116. 7. Đặng Thị Phương Lan, Bùi Thị Xuân Mai và cộng sự. 2013, Giáo trình chất gây nghiện và xã hội, Đại học Lao động Xã hội 8. Loi Ghuman S, Huy et al. 2006, Continuity and change in premarital sex in Vietnam. Pubmed, 32 4, 166-174. 9. Yamazhan T, Gokengin D, Ozkaya D and et al. 2003, Sexual knowledge, attitudes, and risk behaviors of students in Turkey. PubMed, 73. 10. Phạm Hồng Hà. 2002, Thực trạng sử dụng rượu bia, hút thuốc lá và quan hệ tình dục của sinh viên Đại học Y Hà Nội năm 2012, Luận văn cử nhân Y tê Công Cộng, Đại học Y Hà Nội. 11. Trần Thị Mỹ Hạnh. 2008, Mối liên quan của việc xem phim ảnh đồi trụy tới quan niệm và hành vi tình dục của thanh thiếu niên Gia Lâm Hà Nội, 2008, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công Cộng, Đại học Y Tế^ Công Cộng. 12. Tạ Thị Hằng. 2011, Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân, luận văn tốt nghiệp Cao học, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội 13. Trần Thị Hồng. 2008, Khác biệt về giới trong hành vi tinh dục trước hôn nhân của vị thành niên và thanh niên Viện Nghiên cứu gia đình và giới 14. Trần Thị Hồng. 2013, Hành vi nguy cơ về sức khoẻ của thanh thiếu niên Việt Nam, thực trạng và các yếu tố tác động, Học viện chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 15. Trần Văn Hường. 2012, Thực trạng, quan điểm và các yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường đại học Sao Đỏ tỉnh Hải Dương năm 2012 thạc sĩ Luận văn Thạc sĩ Y tế Công Cộng, ĐH Y tế công cộng. 16. Ahmed Meekers D. 2000, Ontemporary patterns of adolescent sexuality in urban Botswana. Journal of Biosocial Science, 32. 17. Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê. 2003, Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh thiếu niên Việt Nam lần 1, Tổng cục Thống kê. 18. Melhado L. 2009, In Africa, Adolescents Who Have Premarital Sex Show Higher Dropout Rates. International ppectives on Sexual and Reproductive Health, 35. 19. Finer 2007, Trends in premarital sex in the United States, 1954-2003. Pubmed, 1221. 20. Chen Lee Lee et al. 2006, Premarital sexual intercourse among adolescents in Malaysia a cross-sectional Malaysian school survey. Pubmed, 476. 21. Blum ^ Linh 2009, Sử dụng biến tổ hợp các ^ thang do yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệkết hợp với kĩ thuật phân tích dọc về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân ở Gia Lâm – Hà Nội. Tạp chí Y Tế công cộng. 22. Vũ Mạnh Lợi. Tình dục trước hôn nhân Nghiên cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải và Đài Loan – Trung Quốc. 23. Söderbäck M. 2012, Sexual behavior among chinese male female medical university student in Chongqing, China. Science of Public Health, 23 1, 149-174. 24. Đặng Thị Thu Mai. 2013, Nghiên cứu thái độ tình dục của sinh viên có tiếp xúc với nội dung kiêu dâm trên Internet, Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn. 25. Nguyễn Văn Nghị. 2011, Nghiên cứu quan niệm, kiến thức, hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản ở vị thành niên huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương 2006-2009, Luận văn Thạc sĩ Y Tế Công Cộng, Đại học Y Tế Công Cộng 26. Lê Nguyễn Minh Tấn Ngô Văn Lệ. 2008, Quan hệ tình dục trước hôn nhân một góc nhìn, Khoa Nhân Học, ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc GIa TPHCM, accessed, from 27. Lê Ngọc Hân, Nguyễn Linh Khiếu và cộng sự. 2003, Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. 28. Lê Cự Linh, Nguyễn Thanh Nga và cộng sự. 2009, Thực trạng sức khỏe thanh thiếu niên huyện Chí Linh, Hải Dương Các kết quả sơ bộ từ dự án nghiên cứu dọc tại Chililab. Hội Y tế Công Cộng Việt Nam. 29. Trần Mai Hương, Nguyễn Thị Kim Hoa và cộng sự. 2007, Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, 173. 30. Trần Mai Hương Nguyễn Thị Kim Thoa, Mai Thanh Tú và cộng sự. 2007, Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. 31. Faromoju B, Olaleye A, Ladipo O, et al. 2006, Sexual behavior and experience of sexual coercion among secondary school students in three states in North Eastern Nigeria. BMC Public Health. 32. Laguna 2001, On Their Own Effect of Home- and School-leaving on Filipino Adolescents' Sexual Initiation. East-West Center, 108 19. 33. Xenos P, Podhisita C and Varangrat A. 2000, The risk of premarital sex among Thai youth individual and family influences. East Wesst center working papers. 34. Lã Ngọc Quang, Phạm Thi Hương Trà Linh. 2014, Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Phú Thọ, năm 2014. Tạp chí Y Tế Công Cộng, 34. 35. Mai Xuân Phương. 2014, Làm mẹ khi chưa trưởng thành Thách thức mang thai ở tuổi vị thành niên. 36. Nguyễn Thúy Quỳnh. 2001, Mô tả hành vi tình dục và kiến thức phòng tránh thai của nam nữ sinh viên chưa lập gia đình tuổi 17-24 tại một trường Đại học Hà Nội, Đại học Y Tế Công Cộng. 37. Sujay R. 2009, Premarital Sexual Behaviour among Unmarried College Students of Gujarat India. Health and Population Innovation Fellowship Programme, 9 38. BinSaeed A, Raheel H, et al. 2013, Sexual practices of young educated men implications for further research and health education in Kingdom of Saudi Arabia KSA. JPublic Health Oxf, 35 1, 21-6. 39. Bandason T, Rusakaniko S. 2010, Prevalence and associated factors of smoking among secondary school students in Harare Zimbabwe. Tob Induc Dis, 8, 12. 40. Scornet C, et al. 2012, "Giới, tình dục và sinh sản ở Việt Nam",116-130. 41. Wulf D, Singh S, Samara R, et al. 2000, Gender Differences in the Timing of First Intercourse Data from 14 Countries. International Family Planning Perspectives, 26. 42. Wulf D, Singh S, Samara R, et al. 2000, Gender Differences in the Timing of First Intercourse Data from 14 Countries. International Family Planning Perspectives, 26 1. 43. William Susan et al. 2009, Alcohol, Helping Young Adults to Have Unprotected Sex with Casual Partners Findings from a Daily Diary Study of Alcohol Use and Sexual Behavior. Journal of adolescent health, 44 1, 73-88. 44. Nguyễn Như Ý và cộng sự. 1998, Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin. 45. Lai F. D and Chung C. S. 1997, Assessment of sexual functioning for Chinese college students. Arch Sex Behav, 261, 79-90. 46. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2004, Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 47. Bộ Y Tế. 2009, Sức khỏe sinh sản, NXB Giáo dục, Hà Nội. 48. Bộ Y tế. 2010, Đều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh thiêu niên Việt Nam lần thứ 2SAVY 2. UNICEF Việt Nam. 49. Lâm Thị Bạch Tuyết. 2011, Mô tả thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố liên quan của sinh viê trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu năm 2011, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công Cộng, Đại học Y tế Công Cộng. 50. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. 2009, Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sin cấp 3 tại thành phố Hồ CHí Minh. Hội Y tế Công Cộng Việt Nam. 51. Vũ Thị Linh Trang. 2015, Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố liên quan của sinh viên Y6 trường Đại học Y Hà Nội năm 2015, Luận văn bác sỹ Y học Dự Phòng, Đại học Y Hà Nội. 52. Trần Hữu Trí. 2010, Nghiên cứu thực trạng kiến thức và hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp, năm 2009 Thạc sĩ, ĐH YTCC. 53. Mutahara U, Rob 2011, Premarital sex among urban adolescents in Bangladesh. Population Council, 20 1. 54. UNICEF. 2005, Hội thảo công bố kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam SAVY2. 55. Li X, Wang B, Stanton B, et al. 2007, Sexual attitudes, pattern of communication, and sexual behavior among unmarried out-of-school youth in China. BMC Public Health 7189. 56. Ye F, Wang X, Wang Y and et al. 2012, Contraceptive knowledge, attitudes and behavior about sexuality among college students in Beijing, China. Chin Med J Engl, 1256. 57. Lu Yu, Xinli Chi, Sam Winter. 2012, Prevalence and correlates of sexual behaviors among university students a study in Hefei, China. BMC Public Health, 12972. 58. Liying MD, Zhang L and et al. 2002, Premarital Sexual Activities Among Students in a University in Beijing, China. Journal of the American sexual transmitted diseases association, 294. ĐẶT VẤN ĐỀ 9 CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3 Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu 3 Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của TTN và sinh viên 4 Thực trạng trên thế giới 4 Thực trạng tại Việt Nam 5 Các yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của TTN và sinh viên 8 Yếu tố cá nhân 8 Yếu tố bạn bè 11 Yếu tố gia đình 12 Yếu tố nhà trường 14 Giới thiệu về trường Cao Đẳng Y tế Thanh Hóa 14 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 Đối tượng nghiên cứu 16 Thời gian nghiên cứu 16 Địa điểm nghiên cứu 16 Phương pháp nghiên cứu 16 Thiết kế nghiên cứu 16 Cỡ mẫu 17 Phương pháp chọn mẫu 17 Biến số nghiên cứu chính 17 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 18 Công cụ thu thập số liệu 18 Cách tiến hành thu thập thông tin 18 Xử lí và phân tích số liệu 20 Xử lí và nhập liệu 20 Phân tích số liệu 20 Phương pháp đo lường/ tiêu chuẩn đánh giá 20 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23 Mục tiêu 1 Đặc điểm về cá nhân, hành vi lối sống, các mối quan hệ gia đình, bạn bè có thể liên quan đến hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên 23 Mục tiêu 2 Mô tả hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên và xác định một số yếu tố liên quan 33 Mô tả thực trạng hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên 33 Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTD của sinh viên 39 CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 43 Bàn luận về một số đặc điểm đời sống sinh viên, kiến thức, thái độ và các mối quan hệ gia đình bạn bè của sinh viên 43 Hành vi lối sống của sinh viên 43 Yếu tố gia đình, bạn bè 45 Kiến thức cúa sinh viên về SKSS và TD 46 Thái độ của sinh viên về SKSS và TD 48 Bàn luận về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên . 50 Tỷ lệ sinh viên đã QHTD trước hôn nhân 50 Tuổi QHTD lần đầu 51 Bạn tình trong các lần QHTD của sinh viên 51 Sử dụng biện pháp tránh thai trong QHTD 53 Tình trạng có thai và nạo phá thai 54 Mối số yếu tố liên quan đến hành vi QHTD của sinh viên 55 KẾT LUẬN 58 Đặc điểm về cá nhân, kiến thức thái độ và các mối quan hệ gia đình, bạn bè của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa 58 Mô tả thực trạng hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên và xác định các yếu tố liên quan 59 KHUYẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC 65 Đặc điểm về cá nhân của sinh viên Đặc điểm về hành vi lối sống của sinh viên Đặc điểm yếu tố gia đình, bạn bè của sinh viên Thái độ đồng ý/rất đồng ý các quan điểm về SKSS và TD của sinh viên Đặc điểm có người yêu và hành vi QHTD trước hôn nhân Đặc điểm về sử dụng BPTT trong QHTD trước hôn nhân Đặc điểm hành vi QHTD lần đầu Đặc điểm hành vi QHTD lần gần đây nhất và trong vòng 1 tháng qua Đặc điểm hành vi có thai và nạo phá thai Phân tích đơn và đa biến yếu tố cá nhân hành vi lối sống ảnh hưởng đến QHTD trước hôn nhân Phân tích đơn và đa biến yếu tố kiến thức, thái độ, gia đình, bạn bè ảnh hưởng đến QHTD trước hôn nhân Phân tích đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QHTD trước hôn nhân DANH MUC BIỂU ĐỒ Điểm TB kiến thức chung và tỷ lệ % điểm kiến thức đạt > 15 điểm của sinh viên Kiến thức về SKSS và TD của sinh viên Nguồn cung cấp thông tin kiến thức về SKSS và TD Điểm trung bình thái độ và tỷ lệ % thái độ truyền thống > 10 điểm của sinh viên
Người ta đã nói nhiều đến những khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ giữa Tây và ta nhưng lại không nói nhiều đến một chuyện rất tế nhị khác nữa cũng có thể coi là một khác biệt văn hóa đang ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm bạn trai phương Tây của các cô gái Việt. Khác biệt đó là gì? Trong tạp chí phụ nữ tuần này, Việt Hà sẽ gửi tới quý thính giả những tìm hiểu về sự khác biệt này. Trần Thị Hồng là một cô gái sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Năm nay 30 tuổi, cô được coi là thế hệ đầu 8x và có thể nói là một thế hệ khá hiện đại so với những người sinh ra trong những năm 70. Tại công sở, cô làm cùng với khá đông người nước ngoài, mà chủ yếu là đến từ các nước Âu Mỹ. Tiếp xúc với người nước ngoài nhiều, đọc sách báo, xem phim ảnh nước ngoài nhiều, không biết từ lúc nào cô đã có thiên hướng yêu người phương Tây. Thế nhưng ngay trong lần tìm hiểu đầu tiên với một người đàn ông Ai len, Hồng đã thất bại. Một thất bại làm cô phải tự dằn vặt mình một thời gian khá lâu trước khi tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi tại sao của mình. Hồng quen người bạn trai nước ngoài trong một lần đi tiệc tùng cùng với bạn bè. Hai người nói chuyện và cảm thấy hợp nhau. Sau đó cả hai bắt đầu hẹn hò. Sau hai lần hẹn hò, đến lần thứ 3, người bạn trai muốn có quan hệ tình dục nhưng Hồng lại chưa sẵn sàng. Cô nói với người bạn trai cô không muốn và rằng đây là lần đầu tiên trong đời, cô muốn dành sự trinh trắng của mình cho người chồng của mình vào ngày cưới. Hồng nhớ lại "Trong đầu em lúc đó không nghĩ là anh ấy đi xa như thế… Có nghĩa là khi em cảm nhận anh ấy đi xa như thế thì em dừng lại, em bảo không được. Em bảo bạn đó là lần đầu của em. Bạn ấy hơi bị sốc." Áo cưới cô dâu. AFP photo Áo cưới cô dâu. AFP photo Câu trả lời mà người bạn trai nói với Hồng lúc đó là không sao, nhưng anh không thể chờ cho đến ngày cưới. Sau đó người đàn ông có nhắn tin xin lỗi Hồng nhưng không tiếp tục hẹn hò cô nữa. Điều này khiến cô dằn vặt rất nhiều cho đến khi cô được một người bạn giải thích. Bây giờ, nghĩ lại, cô cảm thấy tiếc. "Em nghĩ là phản ứng của em thật quá, và cũng chưa hiểu đối tượng lắm. Nếu em hiểu thì em sẽ giải thích khác hơn, tức là không phải đợi đến lúc đấy mà đợi đến khi mình sẵn sàng và tin tưởng hoàn toàn. Chuyện đó cũng bình thường, một khi người phụ nữ đã tin tưởng ai đó thì chuyện đó cũng bình thường, nhất là ở tuổi của em. Nếu được quay lại thời gian thì em sẽ làm như thế." Quan niệm Á đông Câu chuyện của Hồng cũng là câu chuyện của những cô gái Việt Nam khác vẫn gìn giữ sự trinh trắng của mình theo những gì mà cha mẹ đã dạy, mặc dù giờ đây, việc những cô gái Việt Nam giữ gìn sự trinh trắng cho đến lúc cưới đã ngày một ít đi. Theo tiến sĩ tâm lý Khuất Thu Hồng, Giám đốc viện Nghiên cứu phát triển xã hội thì việc gìn giữ trinh tiết của người phụ nữ ở Việt Nam đang là một nỗi ám ảnh của không chỉ ở những cô gái mà còn của cả xã hội Và điều bất công ở chỗ là trinh tiết chỉ dùng để đánh giá người phụ nữ, chứ không phải đánh giá nam giới. TS Khuất Thu Hồng "Cho đến bây giờ, trinh tiết vẫn là sự ám ảnh mặc dù thực tế xã hội đã thay đổi nhiều rồi. Giờ mọi người nói là tìm được một người con gái trinh tiết trước khi kết hôn thì rất khó. Trong thực tế thanh thiếu niên quan hệ tình dục với nhau rất nhiều trước hôn nhân. Và điều bất công ở chỗ là trinh tiết chỉ dùng để đánh giá người phụ nữ, chứ không phải đánh giá nam giới. Tại sao nam giới không phải giữ gìn trinh tiết mà phụ nữ thì phải giữ gìn trinh tiết. Thực tế xã hội đã thay đổi nhưng mà sự ám ảnh vẫn còn đấy. Vẫn có sự tiếc nuối không thực tế chút nào nên tôi gọi đó là sự ám ảnh."Sự ám ảnh đó theo Hồng cũng chính là nguyên nhân khiến cô không thể đi xa hơn với người bạn trai của mình, dù cô cho rằng mình cũng là người có suy nghĩ khá thoáng. Hồng nói "Em nghĩ thì rất thoáng, nhưng cái giáo dục ngày xưa ngấm quá sâu nên việc mình làm thì nó ngăn cản mình. Ví dụ đang ở khung cảnh như thế thì lúc đó những gì ngấm vào người mình nó trỗi dậy và mình không thể. Trong trường hợp mà em không còn trinh tiết nữa thì em nghĩ là em sẽ dễ hơn, vì khó mà cưỡng được." Tất nhiên với phần lớn những cô gái đã hẹn hò với người phương Tây ở Việt Nam thì chuyện có quan hệ tình dục trước hôn nhân từ lâu đã không còn là nỗi ám ảnh, chỉ trừ những trường hợp như của Hồng. Quan niệm phương Tây Anh John Flanagan, một người đàn ông Mỹ đã kết hôn với một phụ nữ Việt Nam, cho biết anh đã hẹn hò rất nhiều cô gái Việt trước đó và phần lớn các cô đều sẵn sàng có quan hệ tình dục trước hôn nhân mà không có trở ngại nào. Tuy nhiên anh cũng gặp một trường hợp cô gái muốn giữ sự trinh tiết cho đến lúc kết hôn. Anh nói Người mẫu Bằng Lăng và người chồng phương Tây. Photo courtesy of Người mẫu Bằng Lăng và người chồng phương Tây. Photo courtesy of "Có một cô gái mà tôi hẹn hò ở Hà Nội. Tôi nghĩ cô ấy sẽ ngủ với tôi nhưng cô ấy nói là cô ấy muốn chờ đến khi kết hôn. Tôi nói với cô ấy là trong quan niệm phương tây của chúng tôi, nếu đợi đến khi kết hôn thì có quá nhiều vấn đề." Sống ở Việt Nam đã nhiều năm, John khá hiểu về văn hoá Việt Nam và anh tôn trọng việc giữ gìn trinh tiết của người phụ nữ Việt Nam. Nhưng trong lý luận của anh, việc chờ đến khi kết hôn sẽ mang lại quá nhiều rủi ro cho cả hai người, ảnh hưởng đến hạnh phúc của cả một đời. Anh giải thích "Theo tôi tình dục là điều tốt đẹp và chúng ta không nên nhìn nhận nó một cách đơn giản và nói rằng đợi đến lúc cưới mới biết hai người có hợp nhau không về tình dục thì thật là không bình thường. Quan hệ tình dục giúp người ta trao đổi với nhau mọi chuyện dễ dàng hơn, và giúp cho mối quan hệ hai phía có thể tiến xa hơn. Phần lớn những chàng trai phương Tây không muốn có quan hệ xa hơn với người phụ nữ trừ khi đã có quan hệ tình dục với nhau." John cho rằng nếu sau 3 đến 4 lần hẹn hò mà cô gái vẫn không muốn có quan hệ tình dục thì khả năng mất người đàn ông phương Tây là rất lớn. Bản thân Hồng, giờ đây nghĩ lại, tìm hiểu kỹ hơn, cô cũng thừa nhận việc có quan hệ tình dục trước hôn nhân không phải là xấu như những gì cô đã được dạy, mà lại có những điểm tích cực. Cô nói "Em nghĩ nó tốt chứ vì xung quanh em là những người có gia đình rồi và nhiều phụ nữ nói chuyện với nhau thì cái chuyện sex khá quan trọng với gia đình. Hạnh phúc vợ chồng, nhiều người nói là chiếm đến 50% hạnh phúc mà sao không thử để xem có hợp hay không. Ví dụ như bạn em bằng tuổi em mà đã lấy chồng 2 lần rồi có 2 con. Người chồng đầu tiên ly dị vì chuyện đó không hợp chứng tỏ nó cũng quan trọng. Cho nên lấy nhau rồi mà mới thấy không hợp thì đó là một thảm họa." Theo tiến sĩ Khuất Thu Hồng, ở Việt Nam vẫn chưa có một thống kê nào về việc các cặp vợ chồng ly dị do không hợp về chuyện tình dục. Nguyên nhân là bởi người Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng nói về vấn đề này, họ cho là nó quá tế nhị và riêng tư. Trong câu chuyện của Hồng, còn có một chi tiết khác nữa mà Hồng cho rằng cô đã làm sai. Cô cho rằng việc nói với người bạn trai đây là lần đầu tiên của cô đã khiến gây căng thẳng cho anh bởi không phải phần lớn những người đàn ông phương Tây đều thích các cô gái còn trinh theo quan niệm của châu Á. Anh John Flanagan giải thích về quan điểm này như sau Phần lớn những chàng trai phương Tây không muốn có quan hệ xa hơn với người phụ nữ trừ khi đã có quan hệ tình dục với nhau. Anh John Flanagan "Đối với tôi, suy nghĩ có quan hệ với một cô gái còn trinh làm tôi không có hứng. Là người đàn ông đầu tiên trong đời một cô gái làm tôi cảm thấy không thoải mái. Nếu tôi lấy ai đó mà người đó còn trinh thì tôi sẽ cảm thấy rất rất không thoải mái." Quan điểm này rõ ràng là khác rất nhiều so với nhiều người đàn ông Việt Nam, bởi ngoài quan niệm truyền thống về trinh tiết phụ nữ, ở Việt Nam vẫn còn phổ biến chuyện các ông đi mua trinh của các cô gái để lấy may. Câu chuyện của Hồng đã xảy ra cách đây vài tháng. Giờ những dằn vặt, thắc mắc trong cô đã hết. Hồng đã vui vẻ trở lại và đang tìm kiếm một người đàn ông phương Tây khác. Cô ví chuyện giữ trinh của mình giống như một cái khung trinh tiết có còi báo động và nó đã kêu rất to trong lần đầu tiên, nhưng lần tới chắc cái khung không còn chắc chắn như trước nữa. Theo dòng thời sự Hôn nhân có lỗi thời? Phong trào chụp ảnh cưới "nuy" Vì sao phụ nữ Việt thích lấy chồng Tây? Xu hướng phụ nữ lập gia đình muộn Vì sao các chàng Việt Kiều lại thu hút? Cô dâu Việt trên đất Mỹ
Tâm sự Chủ nhật, 13/1/2008, 1218 GMT+7 From Rose StalsSent Saturday, January 12, 2008 836 PMSubject Gui toa soan Quan he tinh duc bua bai the hien su thieu ton trong ban than Sau khi đọc bài viết của Đức tôi định viết nhiều lắm. Nhưng tôi thấy mọi người phản đối Đức quá nhiều rồi và bài viết của các bạn phản đối đã rất hay và xác đáng nên tôi chỉ muốn góp thêm một tiếng nói phản đối nữa và để ủng hộ các thuộc thế hệ 7X, sinh sau chiến tranh. Tôi gặp và quen chồng tôi trong một chuyến đi làm việc ngắn hạn tại Mỹ. Hết thời hạn làm việc, tôi quay về Việt Nam, anh theo tôi về. Chúng tôi làm đám cưới vài năm sau đó. Trong suốt thời gian bấy lâu quen anh, suốt thời gian làm việc ở Mỹ, rồi những lần thăm viếng gia đình chồng vài ba tháng, tôi chưa nhận thấy ở bất kỳ nơi đâu có kiểu quan niệm như Đức. Không biết hồi đó Đức du học ở đâu, học hành kiểu gì mà lại có tư tưởng như lấy cái mác "tư tưởng phương Tây" để ngụy biện cho sự ích kỷ của mình. Người phương Tây vẫn tôn trọng giá trị gia đình, tình yêu thủy chung và trách nhiệm. Khi yêu nhau, sinh hoạt tình dục là chuyện tự nhiên. Nhưng khi đã có mối quan hệ rồi thì tuyệt đối chung thủy. "Sleep around" - lang chạ là điều tối kỵ, ngay cả đối với đàn ông. Tất nhiên, chuyện "sleep around" cũng có xảy ra, nhưng một khi người kia biết trước sau gì cũng biết thì người này nếu còn chút xíu tự trọng thì phải chủ động chia tay nếu không cũng bị đề nghị chia tay. Khi đó, nếu là phụ nữ, sẽ bị cho là "slut", "sick", "hooker"... vì chỉ có hư hỏng, bệnh hoạn, gái điếm... mới "ngủ" với nhiều người cùng lúc... Còn nếu là đàn ông thì sẽ bị cho là "coward" hèn nhát.
quan niệm tình dục của phương tây